Luật sư có những quyền gì sau khi được cấp giấy chứng nhận người bào chữa

Luật sư có những quyền gì sau khi được cấp giấy chứng nhận người bào chữa

Luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự là những luật sư được mời hoặc được chỉ định theo quy định về các trường hợp bắt buộc phải có luật sư tham gia.

Theo quy định tại Điều 56, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 thì một luật sư có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau. Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 

luat su  bac giang bao chua

Luật sư có những quyền gì sau khi được cấp giấy chứng nhận người bào chữa - Văn phòn luật sư Bắc Giang

Về nguyên tắc, ngay khi có quyết định khởi tố bị can là luật sư đã có quyền tham gia bào chữa. Với trường hợp được mời, được cử tham gia vụ án hình sự từ giai đoạn điều tra thì luật sư bào chữa sẽ được vận dụng, sử dụng hết tất cả các quyền của mình theo quy định tại khoản 2, Điều 58, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003.

Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội Xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng VKS quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và những văn bản có liên quan.

Quyền của luật sư bào chữa

Khi có giấy chứng nhận người bào chữa, luật sư có những quyền được quy định tại Điều 58, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003. Cụ thể như sau: 

a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

b) Đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;

c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác;

đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;

g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;

h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;

i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2, Điều 57 của Bộ luật này.

Nghĩa vụ của người bào chữa

Khoản 3, Điều 58 quy định về nghĩa vụ của người bào chữa:

a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;

Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này;

b) Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

c) Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;

d) Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

đ) Có mặt theo giấy triệu tập của tòa án;

e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân

Nếu cần thêm thông tin chi tiết, quý khách vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ dưới đây:

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ BẮC GIANG

Cơ sở 1: Đường Nguyễn Gia Thiều, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Hotline: 0915.101.880 - 0984.638.890

Hân hạnh được phục vụ Quý khách.

Tin tức liên quan

02-04-2018 22:52:45
Lượt xem: 1399

Ngày 3-2, Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Giang tổ chức tổng kết hoạt động năm 2017, đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm 2018. Đến dự có Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, Đại biểu Quốc hội Khóa XIV, Chủ tịch liên đoàn Luật sư Việt Nam, cùng đại diện lãnh đạo một số sở, ngành trong tỉnh.

12-04-2018 14:13:02
Lượt xem: 1301

Ly hôn luôn gây tổn thương, nhất là đối với các đứa trẻ. Tuy nhiên, nếu chúng phải sống với người cha rượu chè, bạo lực hoặc người mẹ nhân phẩm không tốt thì việc ly hôn của bố mẹ sẽ là giải pháp tốt hơn cho tương lai của chúng. Vậy thủ tục ly hôn và giành quyền nuôi con có những yêu cầu gì, chúng ta cùng tìm hiểu.

06-05-2018 10:10:09
Lượt xem: 1300

Đang bị truy nã nhưng Bùi Đình Hưng vẫn lên mạng Zalo kết bạn, tán tỉnh phụ nữ. Khi hẹn hò, Hưng vờ quên cái gì để mượn tiền, mượn xe rồi biến mất. Đối tượng đã bị sa lưới pháp luật.

Văn phòng luật sư Bắc Giang đưa tin.

28-04-2018 23:28:02
Lượt xem: 869

Chị Nguyễn Ngọc Thiên Bửu (TP HCM) hỏi: "Thường ngày tôi nhận rất nhiều tin nhắn, điện thoại rao bán đất đai, bán mỹ phẩm, bán bảo hiểm... Nhiều lúc đang ngủ nhận tin nhắn rất bực mình.

13-04-2018 08:47:28
Lượt xem: 1328

Sau đây là 04 chính sách có hiệu lực từ giữa tháng 4/2018 mà Văn Phòng Luật sư Bắc Giang muốn gửi tới quý vị và các bạn:

01-06-2018 17:26:49
Lượt xem: 992

Thông tư 27/2017/TT-BCA có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 10 năm 2017; thay thế Quyết định số 893/2008/QĐ-BCA ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc ban hành Quy tắc ứng xử của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức trong Công an nhân dân và các quy định khác của Bộ Công an trái với quy định tại Thông tư này. Luật sư Bắc Giang sẽ gửi tới quý vị và các bạn nội dung cụ thể chi tiết của thông tư qua bài viết dưới đây:

22-04-2018 16:33:32
Lượt xem: 1182

Đặng Thị Ngọc (ngụ Tân Bình, TP HCM) hỏi: Chị tôi vay tiền nặng lãi của một người, do không trả kịp nên bị đánh gây thương tích. Chị tôi có kiện được không?

04-04-2018 22:34:16
Lượt xem: 968

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và điều kiện do PLHS quy định. Về bản chất pháp lý, người bị Tòa án tuyên án treo vẫn là người có tội, có án, nhưng được miễn thực hiện bản án đó có điều kiện.Đây là một chế định nhân đạo của PLHS, với phương châm “giáo dục - khoan hồng”, án treo không buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội.
Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.